NHỮNG NHÀ MÔ PHẠM ÁI QUỐC.


       Trong lịch sử Việt Nam, yêu nước và giáo dục là hai yếu tố song hành làm nên tính nhân bản và tính dân tộc ở đất nước chúng ta. Theo lẽ thường, giáo dục để biết và hành xử lòng yêu nước đúng đắn; theo nghĩa lý, yêu nước là cách để thể hiện sự giáo dục thắm nhuần và từ đó lưu truyền qua các thế hệ.

Những nhà giáo yêu nước dù thời bình hay lúc loạn ly, đều là những nghĩa cử cao cả, là tấm gương sáng muôn đời. Trong đó có những tấm gương mang tầm ảnh hưởng quốc gia, hay chỉ giới hạn địa phương. Trong khuôn khổ bài viết này, xin được nhắc đến vài tấm gương mô phạm đó:

Người được ghi nhận là nhà mô phạm yêu nước tiên phong là Thầy Chu Văn An (1292 - 1379),  tên thật là Chu An, hiệu là Tiều Ân, tên chữ là Linh Triệt, là nhà giáo nổi tiếng bậc nhất trong lịch sử Việt Nam. Ông từng thi đỗ Thái học sinh nhưng không thích việc quan trường nên ông mở trường dạy học ở làng Huỳnh Cung bên sông Tô Lịch (Hà Nội). Chu Văn An nổi tiếng có học vấn sâu rộng, tư cách thanh cao, sửa mình trong sạch, giữ gìn tiết tháo, không cầu danh lợi, danh tiếng lan xa, học trò theo học rất đông. Ông đã được vua Trần Minh Tông mời đến dạy tại Quốc Tử Giám. Ông là thầy của thái tử Trần Vượng, người trở thành vua Trần Hiến Tông sau này. Với bản tính chính trực, Chu Văn An từng dâng “Thất trảm sớ”, yêu cầu vua Trần Dụ Tông chém đầu bảy tên gian thần song bị vua từ chối. Sau đó, ông cáo lão, về ở ẩn gần núi Phượng Hoàng, Chí Linh, Hải Dương, làm một thầy giáo cho đến khi mất.

                   Tượng thờ cụ Chu Văn An tại Văn Miếu Quốc Tử Giám

Tấm gương tiếp theo là nhà giáo đã nỗ lực phổ biến chữ Nôm trong khoa cử và hệ thống hành chính - “La Sơn Phu Tử’ Nguyễn Thiếp (1723 - 1804) là một danh sĩ nổi tiếng đời hậu Lê và Tây Sơn. Ông sinh ra trong một gia đình thuộc dòng dõi quý tộc. Năm Nguyễn Thiếp 26 tuổi, sau khi đỗ thủ khoa giải Hương, ông không ở lại dự thi Hội mà đi ở ẩn do bất mãn với hệ thống khoa cử. Đến năm 33 tuổi, ông được cử làm quan trông coi việc học ở địa phương. Chứng kiến nhiều điều trái tai gai mắt, ông lui khỏi chốn quan trường. Đến năm 1791, vua Quang Trung ban chiếu lập "Sùng chính Thư viện" ở nơi ông ở ẩn và mời ông làm Viện trưởng. Kể từ đó, ông hết lòng chăm lo việc dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm để dạy học và phổ biến trong dân.

                  

Đền thờ La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp ở Hà Tĩnh

Trong Nam, có nhà giáo đã nổ lực trọn đời dùng thơ văn để giáo dục nhân cách, để bảo vệ non sông đất nước -  cụ Nguyễn Đình Chiểu (1822 - 1888) tự là Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai, hay còn được gọi với cái tên thân mật là cụ đồ Chiểu. Ông là một trong những nhà thơ, nhà văn hóa lớn ở thế kỷ 19 trong lịch sử văn học Việt Nam. Sống trong cảnh nước mất nhà tan, lại chịu nhiều cảnh ngộ bất hạnh như mùa lòa, bệnh tật, hôn thê bội ước… nhưng ông vẫn thể hiện cốt cách của một nhà nho, nhà giáo, nhà yêu nước chân chính “đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”. Trước những cám dỗ của kẻ thù, ông không quay lưng lại với vận mệnh dân tộc và đã để lại cho đời rất những áng văn lỗi lạc như "Lục Vân Tiên""Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc".

                

Tượng Cụ Nguyễn Đình Chiểu ở nhà thờ Ba Tri – Bến Tre

Bước sang đầu thế kỷ XX, khi trào lưu yêu nước xuất hiện theo khuynh hướng dân chủ tư sản, thì ngày càng nhiều nhà Nho bỏ đường lối cũ để tìm lấy hy vọng mới – trong đó nhiều nhà giáo tiến bộ đã mạnh dạn dấn thân; tiêu biểu là cụ Phan Bội Châu (1867 – 1940) tên hiệu là Sào Nam, vốn nổi tiếng về tài năng uyên bác từ thuở nhỏ, lớn lên lòng yêu nước càng nồng nàn cùng với ý chí đánh đuổi ngoại xâm khôi phục sơn hà. Cụ Phan có mười năm trường dạy học để nuôi dưỡng phụ thân; đó là quãng thời gian quan trọng để Cụ định hình con đường cách mạng trong tương lai. Qua phong trào Đông Du -  gửi học sinh sang Nhật du học – Cụ Phan đưa xem là nhà giáo yêu nước khai sáng cho nền giao lưu học thuật ở Việt Nam, xem trọng việc học tập tinh hoa văn minh thế giới là yếu tố quyết định thắng lợi cho sự nghiệp phục quốc – phú cường. Dù còn nhiều tâm nguyện chưa thành, nhưng Phan Bội Châu vẫn ngời sáng nhân cách điển hình ở buổi giao thời: yêu nước – khai phóng và cách mạng.

 

Trường công lập đầu tiên ở Phan Thiết được mang tên nhà giáo yêu nước Phan Bội Châu

Về tầm ảnh hưởng mang tính địa phương thì rất nhiều, nhưng trong bài viết này xin chỉ nhắc đến nhà giáo Nguyễn Thông (1827-1884) tự Hy Phần, hiệu Kỳ Xuyên, quê ở Phủ Tân An, tỉnh Gia Định.Trước năm 1856, Cụ làm huấn đạo huyện Phong Phú, tỉnh An Giang; từ 1856 đến 1859 về soạn sách “Nhân sự kim giám” ở Huế khi được tin Pháp chiếm Gia Định; Cụ đã xếp bút nghiên xin xung vào quân đội của triều đình về Nam Bộ đánh giặc. Cụ đã liên lạc với các lãnh tụ nghĩa quân đặc biệt là Trương Công Định, nhưng sau Hiệp ước 1862, theo lệnh triều đình Cụ về làm đốc học tỉnh Vĩnh Long, vừa làm công tác giáo dục vừa theo dõi những cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta ở 3 tỉnh miền đông Nam Kỳ. 

Đền thờ cụ Nguyễn Thông trong khuôn viên trường Dục Thanh, Phan Thiết

 Đến năm 1867, khi Pháp chiếm 3 tỉnh miền miền tây Nam Kỳ, Cụ rút ra miền Trung tổ chức những trang trại như “Đông châu xã” để thu nạp những nghĩa sĩ không hợp tác với giặc rút từ Nam Kỳ ra. Cụ thủy chung thiết tha với vận mệnh của Tổ quốc nên khi ở miền Trung, kể cả trong thời gian dài làm đốc học Bình Thuận, tế tửu trường Quốc Tử Giám vẫn luôn luôn suy nghĩ tìm kế giải nguy cho đất nước:

Chỉ lưu ca khóc người Yên, Triệu 
               Lửa nóng sôi lòng tóc nhuộm sương
            (Thơ gửi cho bạn Bùi Bá Xương)
 Trong khoảng thời gian làm quan ở Bình Thuận, với chức danh Đốc học, Nguyễn Thông đã góp phần quan trọng trong việc phát triển giáo dục ở phủ Phan Thiết, trong đó có việc dựng một ngôi nhà nhỏ bên cạnh sông Phan Thiết (tức sông Cà Ty) gọi là Ngọa Du sào để làm nơi hội tụ người cùng chí hướng luận thơ, đọc sách, tính việc thiên hạ. Đây cũng là cơ sở để sau này hai con của cụ Nguyễn Thông là Nguyễn Trọng Lôi, Nguyễn Qúy Anh hiến phần đất nhà thờ họ cho Liên thành thương quán, bỏ kinh phí xây dựng Dục Thanh học hiệu, nhằm dạy dỗ cho con em người yêu nước, lao động nghèo theo nội dung tiến bộ và yêu nước mà phong trào Duy Tân phát động lúc bấy giờ.

                                     

 Ngọa Du Sào trong khuôn viên trường Dục Thanh

Và, sự trùng hợp của lịch sử khi nhà yêu nước trẻ Nguyễn Tất Thành trên hành trình tìm đường cứu nước đã đến Phan Thiết và có khoảng thời gian ngắn 4 tháng, trực tiếp đứng lớp giảng dạy chữ Quốc Ngữ, Hán văn, các môn thể dục và thường thức đời sống. Như vậy ở đây, lòng yêu nước và yếu tố giáo dục lại gặp nhau hun đúc trong nhà cách mạng trẻ - mà sau này khi trở thành Chủ Tịch của nước Việt Nam độc lập; Người luôn đề cao yếu tố giáo dục và yêu nước, xem đó là tôn chỉ để xây dựng quốc gia mới.

Hằng năm chúng ta kỷ niệm ngày 20/11, là để thể hiện tinh thần tri ân và báo ân; nhưng sâu sắc hơn đó là sự nhắc nhở về tinh thần ái quốc, mà các bậc mô phạm muốn truyền đến các thế hệ học trò Việt Nam.

Phan Bá Linh